Liên kết website
 
Phồng ĐM não trước can thiệp
Phồng ĐM não  sau can thiệp nút coils
Phồng ĐM não sau can thiệp nút coils (hình coils trong túi phồng)
 
ĐỘT QUỴ CHẢY MÁU NÃO

Đột quỵ chảy máu não là gì?

Đột quỵ chảy máu não xẩy ra khi các mạch máu trong não bị dò hoặc vỡ gây chảy máu bên trong hoặc xung quanh của não. Tổn thương não thường xẩy ra nhanh do tăng áp lực mà chính là do số lượng lớn máu chảy vào não hoặc bản thân máu gây tổn thương  não. Máu sẽ kích thích nhu mô não gây ra phù não.

Chảy máu ra xung quanh não được gọi là chảy máu khoang dưới nhện ( hay còn gọi Xuất huyết dưới nhện) và nguyên nhân thường là do vỡ các túi phình mạch não. Còn máu chảy vào trong nhu mô não được gọi là chảy máu nội sọ (xuất huyết não) và nguyên nhân thường là do tăng huyết áp.

 

Điều trị đột quỵ chảy máu não

1. Điều trị nội khoa

Điều trị đột quỵ chảy máu não tùy thuộc nguyên nhân gây chảy máu ( ví dụ do tăng huyết áp, sử dụng các thuốc chống đông, chất thương sọ não, bất thường mạch máu não). Hầu hết bệnh nhân cần được theo dõi sát và liên tục tại các đơn vị hồi sức cấp cứu trong và sau khi bị đột quỵ chảy máu não. Chăm sóc ban đầu đối với một bệnh nhân đột quỵ chảy máu não bao gồm:

•  Xác định nguyên nhân chảy máu

•  Kiểm soát huyết áp

•  Ngừng tất cả các thuốc có thể gây chảy máu ( ví dụ: aspirin, warfarin).

•  Đo và kiểm soát áp lực nội sọ.

Áp lực nội sọ (áp lực bên trong não) có thể được đo bằng cách đặt một thiết bị gọi là ống thông dẫn lưu não thất, qua xương sọ vào bên trong não ( còn được gọi là não thất). Nếu bệnh nhân có tăng áp lực nội sọ, thầy thuốc có thể tháo bỏ một lượng nhỏ dịch não tủy chảy ra từ não thất. Dẫn lưu não thất cũng có thể  được sử dụng để dẫn lưu máu trong trường hợp bệnh nhân có chảy máu não thất. Thủ thuật này có thể được thực hiện tại giường hoặc trong phòng mổ.

2. Điều trị phẫu thuật

 Phẫu thuật có thể được chỉ định để ngăn ngừa hoặc làm dừng chảy máu hoặc giảm áp lực bên trong hộp sọ. Tùy thuộc mức độ nặng của đột quỵ và tình trạng bệnh nhân, phẫu thuật sẽ được thực hiện trong vòng 48 đến 72 giờ đầu sau chảy máu hoặc có thể trì hoãn sau một đến hai tuần để cho tình trạng bệnh nhân ổn định.

a. Điều trị túi phình mạch não

Túi phình bản chất cũng là một phần mạch máu mà có một khu vực bị yếu và phình ra. Nếu chỗ phình bị vỡ thì sẽ gây ra đột quỵ chảy máu não.

Dùng một kẹp ở cổ túi phình mạch não để ngăn ngừa chảy máu ở bệnh nhân có túi phình chưa vỡ hoặc ngăn ngừa chảy máu tái phát ở những bệnh nhân có túi phình đã vỡ.

Phương pháp phẫu thuật này đòi hỏi thầy thuốc phải lấy bỏ một miếng xương sọ, thường được thực hiện sau khi bệnh nhân đã được gây mê toàn thân, và thời gian thực hiện khoảng vài giờ. Kết thúc phẫu thuật, thường mảnh xương sọ sẽ được lắp lại đúng vị trí cũ.

Nút vòng kim loại (coil) là một thủ thuật can thiệp ít xâm lấn hơn so với phẫu thuật, được thực hiện trong lúc cho bệnh nhân gây mê hoặc gây ngủ bằng thuốc. Nó được thực hiện bằng cách đặt một ống đàn hồi (catheter) vào trong động mạch qua đường vào tại động mạch đùi. Catheter được điều chỉnh dọc theo mạch máu trong cơ thể và lên mạch máu trong não đến chỗ túi phình mạch não. Các vòng xoắn kim loại nhỏ (coil) được thả vào chỗ túi phình cho đến lấp đầy túi phình mạch não. Các cục máu đông được hình thành bên trong các coil ngăn dòng máu không chảy vào túi phình và ngăn túi phình bị vỡ lại. Ngoài vòng xoắn kim loại, các chất liệu khác cũng có thể được đưa vào để làm bít tắc túi phình mạch não hoặc chỗ dị dạng động tĩnh mạch ( AVM: arteriovenous malformation).

 

b. Điều trị dị dạng động tĩnh mạch não:

Có một số dạng dị dạng động tĩnh mạch não cũng gây nguy cơ chảy máu não đáng kể. Tuy nhiên quyết định điều trị AVM tùy thuộc một số yếu tố, các yếu tố chính là : tuổi, vị trí và kích thước AVM, các bất thường các tĩnh mạch dẫn lưu của AVM, tiền sử AVM đã vỡ hay chưa. Điều trị bao gồm phẫu thuật, nút mạch và phẫu thuật gabaknife.

c. Mở sọ giảm áp:

Khi tính mạng của bệnh nhân bị đe dọa do tăng áp lực của cục máu đông ở trong não, thầy thuốc có thể xem xét một phẫu thuật để mở xương sọ và/hoặc lấy bỏ máu tụ. Những yếu tố cần xem xét bao gồm: vị trí và kích thước chảy máu, tuổi của bệnh nhân, tình trạng của bệnh nhân và khả năng hồi phục sau đột quỵ não

 

 

Nguồn dotquy.com.vn